Chương I: Giới thiệu

Chương I: Giới thiệu Về Ngành Trồng Rau Tại Việt Nam

Theo truyền thống, Việt Nam là một trong những quốc gia sản xuất rau lớn nhất châu Á, đứng sau Trung Quốc và Ấn Độ về sản lượng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, diện tích trồng rau đã biến động do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, đô thị hóa và cạnh tranh từ nhập khẩu. Hiện nay, Việt Nam xếp hạng khoảng thứ 5-6 toàn cầu về sản xuất rau, với sản lượng ổn định nhưng đối mặt với thách thức về chất lượng và giá cả. Sự suy giảm tạm thời trong một số năm được cho là do hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh và các vấn đề sâu bệnh ở các vùng sản xuất chính như Đồng bằng sông Cửu Long. Cũng trong giai đoạn này, các hiệp định thương mại như CPTPP và EVFTA đã được thực thi, thúc đẩy xuất khẩu nhưng cũng tăng cạnh tranh từ các nước láng giềng như Thái Lan và Trung Quốc. Kết quả là, một số diện tích trồng rau đã chuyển dịch sang cây trồng khác hoặc áp dụng công nghệ cao để nâng cao hiệu quả.

Hình I-1 Thể hiện sản lượng rau quả ở Việt Nam trong giai đoạn 2014-2024.

Năm 2024, kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam đạt hơn 7,14 tỷ đô. Nhưng điều thực sự thu hút sự chú ý của chúng tôi là sự tăng trưởng dài hạn: chỉ hơn một thập kỷ trước, con số đó chỉ khoảng 1,49 tỷ đô la. Vậy mà chỉ sau hơn mười năm, giá trị đã tăng gần gấp năm lần.

Xét về hướng đi của tất cả sản phẩm nông nghiệp, Trung Quốc vẫn tiếp tục là khách hàng hàng đầu của Việt Nam qua từng năm. Trên thực tế, người mua Trung Quốc chiếm hơn 60% tổng giá trị xuất khẩu năm ngoái. Mỹ, Hàn Quốc và Thái Lan cũng là những nhà nhập khẩu lớn, mỗi nước mua hàng trăm triệu đô la nông sản Việt Nam mỗi năm.

Sản xuất rau củ phân bố rải rác khắp đất nước. Tuy nhiên, bốn vùng sản xuất rau củ chính của Việt Nam là Đồng bằng sông Cửu Long (hành, tỏi, rau củ), Lâm Đồng (rau cao cấp như salad, cà chua), Đồng Nai – Bình Dương (rau ăn lá) và Đồng bằng sông Hồng (bắp cải, cà rốt) (Hình I-2). Các vùng sản xuất khác bao gồm Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung và các tỉnh miền núi phía Bắc. Các tỉnh sản xuất rau củ hàng đầu là Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Dương, Tiền Giang, Long An, Hà Nội và Bắc Ninh.

Hình I-2 Thể hiện các vùng sản xuất rau quả tại Việt nam

Viet Nam - Global yield gap atlas
Viet Nam – Global yield gap atlas

Phần lớn các loại rau củ được sản xuất cho thị trường nội địa và xuất khẩu trên các trang trại có diện tích tương đối lớn, từ 1-5 ha ở vùng đồng bằng. Hình I-3 cho biết thời điểm trồng và thu hoạch thông thường của các loại rau củ chính của Việt Nam. Các loại rau củ này được thu hoạch chủ yếu bằng tay, và được vận chuyển đến chợ đầu mối hoặc nhà máy chế biến, nơi chúng được làm sạch, phân loại, đóng gói và chuẩn bị để vận chuyển đến các thị trường trong nước hoặc xuất khẩu. Một số loại rau củ, chẳng hạn như rau bina và rau ăn lá, thường được đóng gói tại chỗ, giúp loại bỏ nhu cầu sử dụng kho lớn. Một số loại cây trồng như cà rốt, khoai lang và rau củ chế biến được thu hoạch bằng máy ở các trang trại lớn.

Rau củ Việt Nam đến tay người tiêu dùng trên toàn quốc chủ yếu thông qua vận chuyển bằng xe tải đến các chợ, siêu thị và chuỗi cửa hàng lớn, sản xuất rau củ ở Việt Nam là một ngành kinh doanh quanh năm, đặc biệt ở miền Nam. Đây là một trong những lợi thế của Việt Nam so với các quốc gia khác ở Đông Nam Á.

Hình I-3 Thời điểm trồng và thu hoạch thông thường của các loại rau củ chính của Việt Nam.

Harvest Calendar of Fruits and Vegetables in Vietnam
Harvest Calendar of Fruits and Vegetables in Vietnam

Phần lớn sản lượng rau ở Việt Nam được xử lý và tiếp thị bởi các hợp tác xã, doanh nghiệp xuất khẩu và/hoặc nông dân tự tiếp thị. Các hợp tác xã thường chỉ tham gia vào việc bán sản phẩm, tính phí nông dân một phần trăm giá bán để tìm thị trường cho rau. Doanh nghiệp xuất khẩu thường vận hành các kho chế biến hoặc phân loại và tính phí nông dân đối với nhiều chi phí tiếp thị và xử lý liên quan như thu hoạch, vận chuyển, phân loại, đóng gói và bán. Những chi phí này thường được khấu trừ vào giá bán buôn mà doanh nghiệp thu được cho rau. Sau đó, nông dân được trả số dư còn lại để trang trải chi phí sản xuất và lợi nhuận. Nông dân tự tiếp thị hoạt động khá giống với doanh nghiệp, nhưng thường trồng và tiếp thị rau của chính họ cũng như rau của những nông dân khác.

Những năm gần đây, mối quan tâm đến sản xuất rau quả đã tăng lên ở các nhà sản xuất quy mô nhỏ, gần các khu vực đô thị. Do đó, một số nhà sản xuất lại quan tâm đến việc tiếp thị trực tiếp qua chợ nông sản, bán online hoặc tham gia chương trình OCOP để nâng cao giá trị sản phẩm.